Top 10 loài côn trùng lớn nhất trái đất hiện nay rất có thể bạn muốn biết

12-05-2020 10 588 1 0

Báo lỗi

Trong trái đất tự nhiên, côn trùng rất đa dạng những loài cũng như hình dáng và kích thước. Xung quanh cuộc sống hằng ngày chúng ta thường gặp những loài côn trùng nhỏ xíu nhưng cũng đều có những loài có kích thước lớn hơn. Bạn đã lúc nào được ngắm nhìn những loài côn trùng lớn nhất trái đất hay vẫn chưa? Hãy cùng Toplist tìm hiểu về những loài côn trùng có kích thước khủng này nhé.

12345678910

1


Dương Thị Khánh Ly

Titanus Giganteus

Titanus giganteus là một loài bọ cánh cứng xén tóc. Đây là một trong những loài bọ cánh cứng có thân dài thứ nhì nhưng nếu không tính chiều dài sừng thì nó là loài bọ cánh cứng dài nhất. Con trưởng thành rất có thể dài đến 16,7 cm.

Trong số những loài bọ cánh cứng được biết, chỉ có con đực Dynastes hercules dài 17,7 cm là dài hơn loài này nhưng nếu không tính độ dài sừng thì loài này dài hơn Dynastes hercules. Nó có cặp càng ngắn, cong và sắc rất có thể cắn bút chì làm đôi và cắn đứt thịt người.

Titanus Giganteus
Titanus Giganteus


2


Dương Thị Khánh Ly

Bọ ngựa Trung Quốc

Bọ ngựa Trung Quốc (tên khoa học Tenodera sinensis) là một loài bọ ngựa, chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc và đã được du nhập vào Bắc Mỹ khoảng năm 1895 như một nguồn kiểm soát côn trùng dịch hại. Kể từ đó, chúng đã lan rộng khắp nhiều miền nam New England, và Đông Bắc Hoa Kỳ. Con trưởng thành có chiều dài đến 10 cm, là loài bọ ngựa lớn nhất ở Bắc Mỹ, loài này thường bị đặt tên nhầm thành Tenodera aridifolia sinensis.

cơ chế ăn uống của bọ ngựa Trung Quốc gồm có chủ yếu là những loài côn trùng khác, mặc dù con cái trưởng thành đôi khi rất có thể ăn cả con mồi là động vật có xương sống nhỏ như loài bò sát và loài lưỡng cư. Giống như một số bọ ngựa khác, chúng là loài ăn thịt đồng loại. Những con cái rất có thể sản xuất một chiếc tổ cứng có kích thước của một quả bóng bàn, số lượng chứa rất có thể lên đến 200 trứng. Tổ này thường gắn vào cây như cây bụi và cây gỗ nhỏ. Màu sắc của chúng phong phú từ xanh tổng thể màu nâu với sọc ngang màu xanh lá cây trên những cạnh của cánh phía trước.

Bọ ngựa Trung Quốc
Bọ ngựa Trung Quốc

3


Dương Thị Khánh Ly

Bướm nữ hoàng Alexandra

Bướm nữ hoàng Alexandra phân bố chủ yếu ở miền đông Papua New Guinea, là loài bướm lớn nhất trên trái đất. Cánh bướm đực cũng màu nâu nhưng có những vết màu xanh dương và xanh lá cây óng ánh, bụng có màu vàng sáng. Điểm đặc biệt để nhận thấy bướm đực là những đốm vàng kim ở sau cánh.


Loài bướm Alexandra Birdwing con cái thường lớn hơn con đực với đôi cánh rộng và tròn hơn. Những con bướm cái rất có thể đạt sải cánh tới 31 cm, chiều dài cơ thể khoảng 8 cm và trọng lượng lên đến 12 gram, những số đo của một loài bướm rất lớn. Bướm cái có đôi cánh màu nâu với những mảng white color, cơ thể màu kem và có một phần nhỏ trên ngực có lông red color. Bướm đực nhỏ hơn, cánh thường cũng màu nâu nhưng cũng đều có những dấu hiệu của màu xanh lá cây hay màu vàng nhạt. Sải cánh của bướm đực vào khoảng 16 – 20 cm. Một điểm đặc biệt về hình thái của bướm đực là có đốm vàng trên cánh sau.

Những con bướm Alexandra Birdwing cái đẻ khoảng 27 trứng trong suốt cuộc đời của tôi (điều này được thống kê dựa trên kết quả giải phẫu cơ thể bướm mẹ tiến hành bởi Ray Straatman). Ấu trùng mới nở sẽ ăn chính vỏ trứng của chúng trước khi tiếp tục phát triển bằng nguồn lá tươi. Ấu trùng bướm có màu đen với những nốt đỏ và có một dải nhỏ màu kem ở giữa cơ thể.

Bướm nữ hoàng Alexandra
Bướm nữ hoàng Alexandra

4


Dương Thị Khánh Ly

Giant Long-Legged Katydids

Loài này có tên khoa học là Arachnacris corporalis, là một loài châu chấu có nguồn gốc ở Malaysia. Chiều dài trung bình của chúng khi trưởng thành dao động trong vòng 15 – 25 cm. Chúng thường có màu xanh lá với cùng một đôi cánh màng cùng cặp cánh trên có màu xanh nhìn giống như chiếc lá, đỉnh đầu có 1 đôi râu mảnh dài và 6 cặp chân dài.

Giant Long – Legged Katydids có kích thước từ nhỏ đến 5 mm đến lớn tới 250 mm. những loài nhỏ hơn thường sống trong môi trường khô hơn hoặc căng thẳng hơn rất có thể dẫn đến kích thước nhỏ của chúng. Kích thước nhỏ có liên quan đến sự nhanh nhẹn hơn, phát triển nhanh hơn và nhu cầu dinh dưỡng thấp hơn. Giant Long – Legged Katydids là loài côn trùng sống trên cây thường được nghe thấy nhất vào đêm tối trong suốt mùa hè và đầu mùa thu. Chúng rất có thể được phân biệt với châu chấu bằng chiều dài của râu của chúng, rất có thể vượt quá chiều dài cơ thể của chúng, trong những khi râu của châu chấu luôn tương đối ngắn và dày.

Giant Long-Legged Katydids
Giant Long-Legged Katydids

5


Dương Thị Khánh Ly

Megasoma Elephas

Loài bọ cánh cứng này thuộc phân họ Dynastinae và thường sinh sống tại những vùng đồi núi mưa ở Mexico, Trung Mỹ và Nam Mỹ. chiều dài của một con đực trưởng thành từ 7 – 12 cm và chúng thường lớn gấp 2 con cái. Chúng thường có màu đen và được phủ một lớp lông mềm. Lông mọc rất dày trên cặp cánh cứng của chúng, lớp lông này còn khiến chúng có bề ngoài hơi vàng. Con đực có hai sừng mọc trên đầu và có một sừng trên đốt ngực trước dùng để tự vệ và cạnh tranh lẫn nhau, con cái không tồn tại sừng.

Megasoma elephas thường có màu đen và được phủ một lớp lông mềm. Lông mọc đặc biệt dày trên cặp cánh cứng của chúng. Lớp lông này còn khiến chúng có bề ngoài hơi vàng. Con đực có hai sừng mọc trên đầu và một sừng trên đốt ngực trước, con cái không sừng. Sừng dùng để tự vệ, hoặc để cạnh tranh lẫn nhau trong vấn đề đồ ăn và giao phối.

Megasoma Elephas
Megasoma Elephas

6


Dương Thị Khánh Ly

Goliathus

Loại bọ này có tên khoa học là Goliathus goliatus, là chi bọ cánh cứng trong họ Scarabaeidae. Chúng là một trong những loài lớn nhất thuộc chi Goliathus với chiều dài cơ thể khoảng 60 – 110 mm đối với con đực, từ 50 – 80 mm đối với con cái và rất có thể đạt trọng lượng lên đến 80 – 100g. Đốt ngực trước của chúng chủ yếu là màu đen, với những sọc dọc white color, trong những khi cánh cứng thường có màu nâu tối.

Loài này có một cặp cánh màng tương đối lớn được sử dụng để bay. Khi không sử dụng, chúng được xếp dưới cánh cứng. Đầu chúng có white color, với cùng một sừng hình chữ Y đen ở con đực được sử dụng trong những trận chiến tranh giành đồ ăn hoặc bạn tình với những con đực khác. Bọ cánh cứng Goliathus chủ yếu ăn nhựa cây và hoa quả.

Goliathus
Goliathus

7


Dương Thị Khánh Ly

Gián đào hang khổng lồ

Loài gián khổng lồ đào hang còn được gọi là gián tê giác, gián khổng lồ Queensland và bọ xít. Những con gián này có nguồn gốc từ Úc và chủ yếu được tìm thấy ở những vùng nhiệt đới của Queensland. Chúng là loài gián nặng nhất trái đất và rất có thể nặng tới 35 g và có chiều dài lên tới 8 cm. Không giống như hầu hết những loài côn trùng đẻ trứng, con gián cái khổng lồ sinh ra con non và bảo vệ con cái của tôi trong hẻm dưới lòng đất, cung ứng cho chúng những chiếc lá mà cô nàng tập hợp qua đêm. Chúng rất có thể sống tới 10 năm, không giống như một số loài gián khác, chúng không tồn tại cánh và không được coi là loài gây hại. Con gián đóng một phần quan trọng trong hệ sinh thái bằng phương pháp tiêu thụ lá chết, đặc biệt là bạch đàn và tái chế những vấn đề khác.

Đúng như tên thường gọi của chúng, chúng rất có thể đào xuống đất ở độ sâu khoảng 1 m, nơi nó làm nhà vĩnh viễn. Con đực và con cái trưởng thành rất có thể được phân biệt bằng kích thước của “muỗng” trên đại từ, bao trùm đầu, con đực có một chiếc muỗng rõ rệt hơn nhiều. Chúng phát triển bằng phương pháp lột lớp vỏ phía bên ngoài 12 hoặc 13 lần trước khi đạt kích thước đầy đủ. Khi một con gián lột xác, nó sẽ xuất hiện white color tinh khiết trừ đôi mắt.

Gián đào hang khổng lồ
Gián đào hang khổng lồ

8


Dương Thị Khánh Ly

Nhện lạc đà khổng lồ

Nhện lạc đà có tên khoa học là Arachnid Solifugae, hay còn được gọi là Bọ cạp gió. Chúng thuộc họ nhện lông và sinh sống chủ yếu trên sa mạc. Chúng sở hữu 6 cặp chân với đủ mọi hình dạng và kích thước. Chiều dài cơ thể chúng rất có thể lên tới 15 cm với trọng lượng khoảng 56g nên mọi người thường gọi chúng là nhện khổng lồ. Đặc biệt loài nhện này có khả năng di chuyển rất nhanh với tốc độ tới 50 km/h và rất có thể nhảy cao tới 2m. Chính vì vậy mà nhện lạc đà là nỗi khiếp sợ đối với mọi loài động vật trên sa mạc. Chúng thường săn mồi đơn độc theo mùa và vào đêm tối.

Nhện lạc đà tuy nhỏ xíu so với nhiều loài khác nhưng là sinh vật săn mồi khá hung dữ. Do có tốc độ trao đổi chất cao, chúng phải ăn rất nhiều và tích cực săn mồi. Nhện lạc đà không tồn tại nọc độc nhưng rất nhanh và khỏe với những răng hàm sắc như kéo. Hành động đào hang là hành vi điển hình của loài này khi cảm thấy bị đe dọa.

Nhện lạc đà khổng lồ
Nhện lạc đà khổng lồ

9


Dương Thị Khánh Ly

Dế Weta khổng lồ

Loài dế Weta khổng lồ này có tên khoa học là Deinacrida, nơi sản xuất từ New Zealand và được xem là loài sinh vật đặc hữu của vương quốc này. Dế Weta cũng là một trong những loài côn trùng có kích thước “khổng lồ”. Không tính chiều dài của chân và râu, thân hình của mỗi con dế Weta đã dài 10 cm. Trọng lượng của chúng rất có thể lên tới 70 – 80 gam, lớn hơn ruồi nhặng từ 100 – 150 lần và nặng gấp ba lần một con chuột. Cái tên Weta vốn có nguồn gốc từ cách những người thuộc bộ tộc Maori gọi loài côn trùng này – Wetapunga, có tức là God of ugly things, dịch vui là Thánh Xấu.

Điều đặc biệt của loài dế này là suốt 200 trăm triệu năm chúng gần như không tồn tại chút tiến hóa nào. Hình dáng của chúng gần như được không thay đổi vẹn cho tới hiện tại. Loài dế Weta cũng được những nhà sinh vật học xếp vào những loài hung hãn nhất trái đất. Chúng rất có thể đánh đuổi cả chuột và cắn cả người. Tuy nhiên điều này chỉ xảy ra khi chúng cảm thấy bị uy hiếp.

Dế weta đã được công nhận là loài côn trùng nặng nhất từng được tìm thấy. Dế Weta chỉ còn ở Đảo Little Barrier của New Zealand, dù có tới 70 loài dế weta khác trên khắp vương quốc. Dế Weta khổng lồ bị mất nơi sinh sống trong đất liền vì kẻ thù của chúng là loài chuột tình cờ được người châu Âu mang tiếp đây. Hài hước ở chỗ, mặc dù là một loài côn trùng như dế Weta không thể bay thậm chí là chúng cũng không thể nhảy như những loài khác.

Dế Weta khổng lồ
Dế Weta khổng lồ

10


Dương Thị Khánh Ly

Bướm khế (bướm đêm Atlas)

Bướm đêm là một loài côn trùng có mối quan hệ chặt chẽ đến loài bướm, chúng thuộc Bộ Cánh vẩy. Bướm đêm chiếm phần lớn số chủng loại loài trong bộ này, người ta cho rằng có khoảng 150.000 đến 250.000 loài bướm đêm không giống nhau (khoảng gấp mười lần so với số lượng những loài bướm ngày), với hàng trăm ngàn loài vẫn chưa được mô tả hết.

Bướm khế hay còn gọi là bướm đêm Atlas có tên khoa học là Attacus atlas. Chúng là loài bướm đêm thuộc họ Ngài hoàng đế, thường được tìm thấy ở rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Đông Nam Á, phổ biến ở quần đảo Mã Lai. Bướm đêm Atlas được xem là loài bướm đêm lớn nhất trên trái đất và tổng diện tích bề mặt cánh lên tới khoảng 400 cm2. Sải cánh của chúng cũng thuộc loại lớn nhất, từ 25 – 30 cm. Con cái lớn và nặng hơn. Bướm khế là một trong 3 loài bướm có tên trong Sách đỏ Việt Nam (bướm khế, bướm đuôi dài, bướm phượng).

Bướm khế (bướm đêm Atlas)
Bướm khế (bướm đêm Atlas)

Từ khóa: Top 10 loài côn trùng lớn nhất trái đất hiện nay rất có thể bạn muốn biết, Top 10 loài côn trùng lớn nhất trái đất hiện nay rất có thể bạn muốn biết, Top 10 loài côn trùng lớn nhất trái đất hiện nay rất có thể bạn muốn biết

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *